Thân chính: thân chính là cơ sở của tạo hình của chậu cảnh cây xanh. Căn cứ vào thân chính ở dáng nào và đặc tính hình thái của từng loại cây mà người tạo dáng lựa chọn cho chủ đề tư tưởng. Do loài cây khác nhau mà có kiểu hình dáng thân khác nhau.
Thân thẳng (dáng trực): ở dáng trực tùy loại cây mà người tạo dáng có thể tạo cây dáng trực với các kiểu khác nhau. Dáng trực kiểu thô nặng: thể hiện sự ổn định vững chắc của cây cổ thụ, ở kiểu này gốc rất to so với ngọn và cảm giác “dán” chặt vào đất. Dáng trực với kiểu khỏe khoắn, có sức sống: ở kiểu này cây có độ thon nhất định, hình thân giảm từ từ mà không giảm mạnh như kiểu trên, đỉnh nhọn, biểu hiện sức sống vươn lên. Dáng trực kiểu thanh tú nhẹ nhõm: ở kiểu này cây có độ thon nhỏ hơn kiểu khỏe khoắn. Cây có thân thẳng nhưng “mảnh” cây cho ta cảm giác “nhu” mà “cương”, đạt được “ Cương nhu” tương tề.

Thân xiêu: trọng tâm của cây ra ngoài thân chính, gây cảm giác không ổn định, dễ gây hình tượng sinh động. Khi thân xiêu thường kết hợp với cành, dễ để đạt được sự ổn đinh, đạt được sự thống nhất. Có thể có các kiểu thân xiêu như xiêu thẳng: toàn bộ thân xiêu đều đều từ gốc tới ngọn; xiên gấp khúc, một đoạn gốc thẳng đến độ nhất định rồi gấp khúc thành xiêu, xiêu hồi đầu và xiêu rủ đầu.
Thân uốn lượn: thân chính uốn sang phải, sang trái nhiều lần, tạo thành hình S gây cảm giác linh hoạt sinh động. Kiểu thân uốn lượn cũng có thể chia ra: Uốn lượn dáng trực, dáng xiêu, dáng cung, dáng long (dáng Rồng)…
Thân huyền: tức là thân mọc trúc xuống, thấp hơn gốc, gây cho ta cảm giác đẹp bay bướm. Như trên đã nói thân dáng huyền có thể chia ra: bán huyền, toàn huyền, huyền gấp khúc, huyền hói đầu, hồi đầu...
Thân chẻ: người ta có thể đục, chẻ làm cho cây có vẻ già lão. Thân chẻ cũng chia ra một số loại như: Chẻ một nửa (bán chẻ) nói lên sự tương phản giữa sống và chết. Chẻ nghiêng là chẻ ở chỗ đầu thân chính hoặc giữa thân chính, hoặc ở chỗ cành ngang. Thân chẻ nhưng vặn ở những cây tạo dáng thân vặn, sau đó dùng dụng cụ đục, đẽo 1 phần thân theo chiều vặn của cây trông lại càng già lão. Thân mục đục đẽo làm cho thân chính mục, kết hợp u bướu sần sùi. Ngoài ra cón có nhiều dạng khác như thân bám đá, liền thân, liền rễ, thân nằm ngang (thân hoành), thân nằm gấp khúc…
Cành cây: cành là sương cốt để tạo hình. Hình thân cho ta chiều hướng hình dáng, còn cành kết hợp với thân tạo thành bộ thân hình dáng nó quyết định hình dáng cơ bản của chậu cảnh, cũng là quyết định đến cái đẹp của chậu cảnh. Bằng nhiều thủ pháp có thể là uốn, leo, buộc hoặc cắt tỉa để có các kiểu cành khác nhau. Cành bay nhảy: cành chính hơi lượn hình chữ S và vươn ra hơi chúc đầu xuống dưới, cành nhỏ hướng thiên; nhìn toàn cảnh thì thấy bay, thanh nhẹ. Cành hồi đầu: cành chính có thể chúc xuống, cành nhỏ mọc theo hướng tương phản cho ta cảm giác hồi đầu. Cành nhảy nghiêng: cành chính như ỏ trên nhảy chéo nghiêng xuống, nhưng cành nhỏ theo quy luật tự nhiên lại mọc hướng lên trên tạo thành sự tương phản đầy sức sống. Cành nằm ngang: cành chính nằm ngang uốn lượn, cành nhỏ dày xếp thành mặt phẳng có thể hơi lượn sóng, trông thanh tú. Cành gió thổi (phong xuy): cắt tỉa hoặc uốn mà các cành đều bay sang một phía như bị gió thổi (còn gọi là bạt phong) làm lệch trọng tâm, tạo mỹ cảm. Cái khó là tuy ra công nhưng nhìn vào ta thấy hình dáng được ngay là do gió thổi mà cành bạt về một phía. Cành rủ: một số loài cây có cành rủ tưh nhiên như liễu. Xuân liễu, tràm bông đỏ… Cành chính hướng lên trên, cành nhỏ rủ xuống theo chiều ngược lại. Kết hợp với dáng thân xiên hoặc uốn vặn sẽ gây cho ta cảm giác yên tĩnh nhu hòa. Cành tự nhiên: lá cành sinh trưởng tương đối tự do, bàn tay can thiệp của con người không nhiều. Ở loại cành này cành chính mọc tự nhiên vươn ra, các cành nhỏ mọc hai bên, phải và trái tuần tự đến đầu cành trông rất tự nhiên, không lộn xộn biểu hiện sức sống thanh xuân tươi trẻ. Ngoài ra còn có thể uốn hoặc cắt tỉa những kiểu cành uốn lượn sóng, hoặc cắt thành kiểu cành gấp khúc. Cành chính biểu thị “Cương” cành nhu biểu thị “nhu” một cách mềm mại, uyển chuyển để đạt được “cương nhu kết hợp”.
Rễ cây: rễ cây là cơ sở giúp cây đứng vững và thu hút dinh dưỡng, là tiềm lực sống của cây, rễ cây còn có giá trị thưởng thức cao, một cây có bộ rễ lộ ra ngoài là sự khác thường khiến người ta phải chú ý đến sự tồn tại khác lạ của nó. Vì vậy nó đạt được giá trị thưởng thức. Có rất nhiều kiểu rễ lộ như: rễ hình phóng xạ, lấy gốc cây chính làm trung tâm, rễ mọc ra bốn phía bám chắc vào đất. Hệ rễ này thường dùng cho cây dáng trực, biểu hiện sự vững chắc. Rễ nghiêng: thường áp dụng cho các cây có dáng xiên. Hướng mọc của rễ thường mọc đối hướng của thân vừa hợp lý về mặt lực vừa thuận mắt dễ nhìn, như có sự níu kéo của rễ để cho cây khỏi đổ. Rễ vặn xoáy: đại bộ phận rễ lộ ra ngoài, vặn những ròng uốn, nếu kiểu rễ kí đá lại vặn xoáy thì nhìn lại càng gợi cảm thể hiện sự ngoan cường bất khuất của cây. Rễ hình nơm: những cây rễ bàng phát triển cũng nuôi rễ mọc cao như hình cái nơm (giống cây đước). Như vậy kiểu này không thích hợp với loại chạu cảnh lớn mà thường cho các loài cây nhỏ dáng thanh thì đẹp hơn. Rễ rủ hoặc rễ cuốn vào thân: loại này thường làm với cây họ Sung Si. Kiểu rế rủ trông rất gợi cảm, yên tĩnh. Kiểu rễ quấn vào thân gây ấn tượng không thể tách rời. Tùy theo chủ đề của tác giả và tùy theo hình thái của cây, của rễ làm rễ quấn vào thân.
Tán cây: tán cây là hình tượng trên cùng của chậu cảnh cây xanh. Tán cây có thể xem là tướng mạo của tác phẩm tùy theo xương cốt (thân, cành), mà quyết định tướng mạo cho vừa. Dù cho cây có biến hóa theo cách này hay cách khác thì tán cây vẫn có đặc trưng tự nhiên là hướng thiên (như rễ cây thì luôn đối diện) luôn là một chỉnh thể thống nhất và cân bằng. Thông thường có mấy dạng tán dưới đây. Tán hình quạt: hình ngang tán có dạng như cánh quạt xòe ra, cành hai bên mọc xiêu khép hướng thiên quyết định dạng tán cây. Tán hình bán cầu: cành 2 bênh mọc ngang ra gần thẳng với thân chính, nhìn ngang như một nửa hình cầu. Tán hình ô: cành hai bên mọc chếch xuống dưới hợp với thân một góc tù ở phía trên hoặc góc nhọn ở dưới. Tán nhỏ hình tam giác: nếu nhìn ngang thì tán cây có hình tam giác do đỉnh nhọn, cành hai bên xòe ra hợp thành 3 đỉnh của tam giác. Dạng tán này biể hiện cây trẻ đầy sức sống. Tán khô ngọn: ngọn cây khô chết nhưng như một mũi giáo hướng thiên, ở dưới ngọn thì cành lá xum xuê, gây cảm giác đối ngược giữa sinh và tử. Tán bằng và tán rủ: thể hiện sự yên tĩnh suy tư càng gây linh cảm. Tán rủ thường thực hiện với các cây liễu. Sơn liễu, còn tán bằng thực hiện được do cắt tỉa. Tán lệch một bên: lấy thân chính làm trực giữa thì tán chỉ phát triển một phía, gây cảm giác động, dáng bạt phong thường tạo theo cách này.
Lá: lá tượng trưng cho sức sống của cây. Lá cây như chiếc áo khoác ngoài dễ gây ấn tượng nhất, đồng thời lại thể hiện sức sống của cây rõ rệt nhất, lá cây lại thay đổi theo mùa, ngay cả những cây thường xanh thì mùa xuân cành lá non tơ màu xanh mỡ màng, mùa hạ cành lá màu lục sẫm, mùa thu , mùa đông lá thường khô cứng. Những cây rụng lá thì vào mùa thu, mùa đông lá chuyển sang màu vàng màu đỏ nhưng Sau, vàng vì thế có thể coi là lá thời trang của cây. Lá của các loài cây l;á rộng thường có hình dạng như; lâ hình tim, hình thuẫn, lá sẻ thùy; cũng có nhiều loại lá xẻ thùy khác nhau như lá xẻ 3 thuy, 5 thùy… Xong để thích hợp với việc trồng trong chậu (chậu cảnh cây xanh) thì những cây có lá nhỏ thuận tiện hơn, vì cây cảnh trong chậu còn nhỏ, các cây đó là Cần thăng, Ngâu, Nguyệt quế, Mai chiếu thủy, Duối, Sơn liễu, Trắc dây, Phi lao… Các cây lá kim nói chung đều thích hợp cho việc làm cây thông chậu như một số loài thông chắc bách, bách xanh… Thông 5 lá là cây đẹp cụm có 5 lá vì vậy người Trung Quốc ghép thông 5 lá trên cây 2 lá (cây 2 lá mọc nhanh hơn) để tạo ra cây Thông 5 lá đẹp nhất.
Các phong cách đối ngược trong tạo hình tổng thể cây xanh: tùy theo chủ đề tác giả thể hiện mà sử dụng phong cách nào cho hợp lý. Một tác phẩm chậu cảnh được gọi là thành công thì nó phải là một chỉnh thể thống nhất, thống nhất giữa nội dung và hình thức, thống nhất giữa cục bộ và tổng thể, sự thống nhất giữ các mặt đối lập. Từ “phong cách” ở đây muốn chỉ cái tư thái biểu hiện bên ngoài. Trong chậu cảnh, sự đối lập giữa cái biểu hiện bên ngoài khác nhau thường dễ gây được cảm mỹ. Thông thường sử dụng phong cách dưới đây: Động và tĩnh: động là sự thông qua sự đối kháng giữa lực ( chiều của lực) và hướng của thân cành để thực hiện, từ sự không cân bằng để tìm sự cân bằng, hình thái có biến động lớn. Tĩnh là thông qua dáng ổn định cân bằng của thân cây, cành cây , cành cây( giá đỡ) mà đạt được. Kết cấu hình thái nói chung không biến đổi lớn, lộ rõ tư thái ôn hòa. Cương và nhu: cương thể hiện sự cứng rắn, rứt khoát. Thường qua việc sử lý thân, cành, rễ để thực hiện ở các chỗ cắt tỉa cần thể hiện rõ các góc cạnh. Còn nhu thể hiện sự dịu dàng, mềm dẻo, ít góc cạnh, giống như người tập quyền sinh vậy. Ổn và dao (ổn định và dao động) thể hiện ổn định thường dùng gốc cây to khỏe, hùng hậu kết hợp tỉa cành cân đối sẽ gây cảm giác trên nhẹ dưới nặng để đạt được sự ổn định. Dao động thì ngược lại làm sao cho có cảm giác trên nặng dưới nhẹ, thường thì gốc cây không to, có khi làm rễ nổi, kết hợp tỉa cành không đều sẽ gây cho ta cảm giác dao động, thiếu ổn định. Hư và thực: “Hư” trong Hán khác với “vô” , “hư” không phải là không có mà là không dễ nhận biết, không nhìn thấy được. Chậu cảnh cần tinh lược, giảm khiết, lay ít nói nhiều như kiểu vẽ cách điệu. Còn thực thì chi tiết, được khắc họa rõ ràng, đậm nét. Thưa và dày: thưa tức là cành ít, thông thoáng. Ngoại hình thì phân tán nhưng ít cành không thay đổi, không phân tán, sẽ gây cho người xem cảm giác đẹp nhẹ nhàng, bóng bẩy. Dày thì cành lá rậm rạp, um tùm nhưng không lộn xộn. Dày cũng gây cho ta cảm giác mạnh mẽ, đầy sức sống. Lộ và tàng: lộ là phơi bày, cho người xem thấy chính diện. Tàng là dấu đi, người xem còn có chỗ tưởng tượng. Trong một tác phẩm, lộ và tàng là sự thống nhất đồng thời là sự so sánh tương hỗ. Lộ và tàng trong không gian là thể hiện sự sắp xếp trước sau, độ sâu không gian. Già và trẻ: phân biệt ở chỗ cây già thường khô nẻ, có u bướu, có hang hốc, thân cành thường bị gấp khúc, rễ lộ ra ngoài. Cây non thân cành thường nhẵn, phản quang. Nhẹ và nặng: cảm giác nhẹ và nặng thì gốc cây chiếm phần chủ yếu. Nếu tán cây có cành lá hợp lý, gốc cây thanh thoát thì có cảm giác nhẹ. Ngược lại, gốc cây so với cành lá chiếm tỷ trọng lớn, gốc to thì có cảm giác “nặng”. Phủ và ngưỡng: phủ là cúi, ngưỡng là ngẩng. Bằng mắt nhìn ta cảm giác thấy sự cao thấp khác nhau của sự vật. Trong chậu cảnh chủ yếu người ta thông qua sự điều chỉnh hướng của cành lá để biểu hiện. Ngưỡng thể hiện sự hân hoan, phấn khởi. Phủ thể hiện sự trầm lắng ung dung, tự tại. Khổ và vinh: ở chậu cây cảnh cây xanh thường tạo dáng khô cằn, già cỗi, cành xù xì thô ráp để biểu hiện khổ. Ngược lại, vinh thì nhấn mạnh sự cường tráng của thân, cành lá rậm rạp xanh tươi, đầy sức sống. Phác và mị: phác là chất phác, nền nã, mị là mĩ miều, bay bướm. Đặc điểm của phác là đoan chính, trang nhã. Ngược lại , nết thanh tú, nhẹ nhõm, bay bướm là mị. Sự khác biệt giữa phác và mị chủ yếu biểu hiện ở các cành nhỏ; cắt tỉa sao cho cành ngắn, khỏe, cương trực làm chính thì đấy là biểu hiện phác. Ngược lại, cành cắt dài, thanh, gấp khúc làm chính thì đấy là biểu hiện mị. Trên đây là nói tới một số phong cách đối ngược trong tạo hình tổng thể cây xanh, có thể người sáng tác còn nghĩ ra một số phong cách khác nữa. Khi thực hiện thì các phong cách giữa nặng và nhẹ, già và trẻ, lộ và tàng... thường dễ thể hiện hơn. Ngược lại, những phong cách như cương và nhu, khổ và vinh, khổ và ngưỡng… thường đòi hỏi có óc tưởng tượng lớn, tay nghề cao mới thể hiện được. Giống như hội họa cùng một khuôn mặt người họa sĩ có thể thể hiện khi vui vẻ hớn hở (ví như ngưỡng trong chậu cảnh cây xanh). Khác với khi trầm lắng suy tư (ví như phủ trong chậu cảnh cây xanh).
<Theo netdeptrangan.com.vn>